| Kính gửi luật sư : Vợ chồng tôi trước đây lấy nhau có tổ chức đám cưới có hai gia đình chứng kiến nhưng không đăng ký kết hôn. Hiện tại, cuộc sống gia đình luôn sóng gió, nay tôi muốn đơn phương ly hôn thì giải quyết như thế nào, chia tài sản và quyền nuôi con ra sao. Xin luật sư tư vấn, cảm ơn luật sư.
Tình trạng vợ chồng sống chung, tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn cũng khá phổ biến đối với xã hội Việt Nam. Một phần do hạn chế về nhận thức pháp luật, mặt khác do không quan tâm đến thủ tục pháp luật về hôn nhân và gia đình. Nhưng khi tranh chấp xẩy ra có thể gây thiệt thòi cho các bên.
Theo như câu hỏi của bạn , chưa rõ bạn cưới nhau chính xác năm nào . Vì thế chúng tôi xin tư vấn chia ra làm 02 trường hợp như sau :
1/ Trường hợp 1 : Quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 03/01/1987
Theo quy định tại thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 tại khoản 1 có quy định “trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình 1986 có hiệu lực)” mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn, thì tòa án áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết ly hôn theo thủ tục tố tụng chung”.
- Khi đó quan hệ vợ chồng của bạn vẫn được xác lập công nhận kể từ ngày hai bên tổ chức đám cưới.
Cần lưu ý, “Được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng” theo điểm d khoản 2 thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP có quy định
“Được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;
- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
- Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.
Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.”
- Khi đó tòa án án sẽ áp dụng quy định về ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình 2010, việc chia tài sản và quyền nuôi con áp dụng như sau
* Về chia tài sản
Theo quy định tại Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì việc chia tài sản khi ly hôn được thực hiện như sau:
1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.
2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:
a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
* Về Quyền nuôi con
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì quyền nuôi con khi ly hôn được giải quyết như sau:
- Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
- Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác.
2/ Trường hợp 2 :
Theo quy định tại khoản 2 thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.
- Đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003.
- Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn. Nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và áp dụng điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, bằng bản án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng; nếu họ có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản, thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết theo thủ tục chung.
“Điều 17. Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật
1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên nam, nữ phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
2. Quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn.
3. Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.”
Cảm ơn bạn quan tâm
VPLS MINH THANH & CỘNG SỰ
Luật sư Ngô Minh Thành
|